Link :
http://blog.yahoo.com/quangdonquichotte/articles/909486/index
TAM ĐẠI HUNG TINH TRONG PHONG THỦY
Vừa rồi NCD
có dạo qua các trang web có Phong Thủy khác, thực sự NCD rất bực tức vì
những điều hư ngụy đăng tải trên các trang web ấy. Trong đó có đoạn bàn về sao
Ngũ Hoàng Sát phi đến các cung. Chẳng những họ dối người, gạt đời với những trò
cúng bái vô lối, cốt ý loè người mà hư cấu quá đáng. Việc các Sao Hung đến
phương vị các nơi trong nhà thì Sao nào cũng có tác động về những mặt đó, nhưng
mức độ nặng nhẹ và thiên về chuyện gì thôi. Cụ thể là:
- Cửa chính
: Ảnh hưởng đến Vận Mệnh mọi người trong nhà, vì đây là nơi mọi người ra vào
đều phải đi qua nó, tất nó phải khuấy động thường xuyên.
- Bếp lò :
Ảnh hưởng đến sức khoẻ mọi người trong nhà, vì đây là nơi nấu ăn nuôi sống con
người. Người ta nói "họa tòng khẩu xuất, bệnh tòng khẩu nhập", nên vị
trí này rất quan trọng tới sức khoẻ là thế.
- Phòng ngủ
: Ảnh hưởng đến Vận Khí cá nhân của người ngụ ở phòng đó. 1/3 đời người nằm
trên giường ngủ, nên nó cũng góp phần không nhỏ vào sự quyết định vận khí tốt
xầu cho ai ngủ, nghỉ nơi đó.
- Bàn làm
việc : Ảnh hưởng đến công việc học tập, công tác, trí tuệ của người thường
xuyên ngồi nơi đó.
- Bàn thờ
Thần Phật: Ảnh hưởng đến Vận Khí mọi người trong nhà, thường thì họ không được
sự ủng hộ, hỗ trợ từ bên ngoài (Ví như các Quý nhân không phù trợ vậy)
- Bàn thờ
Tổ Tiên : Ảnh hưởng đến Tất cả Con Cháu trong nhà đó (tức không chỉ sống nơi đó,
mà con cháu ở nhà khác vẫn bị ảnh hưởng).
Đây là ẢNH HƯỞNG CHUNG, KHÔNG RIÊNG GÌ SAO
NGŨ HOÀNG MỚI BỊ VẬY. Tùy theo Phi Tinh đó là Sao SINH-VƯỢNG-SUY-THOÁI -TỬ mà
quyết định tốt xấu là một, tùy theo tính chất Sao đó ảnh hưởng về mặt gì mà
quyết định những người bị tác động sẽ bị
gì là hai. Tùy từng thời điểm, có thời điểm theo Vận (20 năm), có thời điểm
theo năm, theo Mùa, theo tháng, theo ngày, theo giờ.
Nói như kẻ nào đấy cho rằng Sao Ngũ Hoàng
đến Cổng, đến Bếp...vv...mới bị là sai lầm, là quan trọng hóa Sao Ngũ Hoàng quá
lắm. Phong Thủy khuyên cẩn thận với Sao Ngũ Hoàng vì SAO NGŨ HOÀNG LÀ HUNG TINH
SỐ 1 TRONG CỬU TINH CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ HUNG TINH NGUY HIỂM NHẤT TRONG TẤT CẢ HUNG
TINH. Xin đừng lầm điều này! Trong tất cả các Sao, Thần Sát, Hung sát Tinh của Phong
Thủy, thì HUNG TINH NÀO CŨNG CÓ CÁCH HÓA GIẢI NGOẠI TRỪ TUẾ PHÁ. Vâng. Chỉ có
ngoại trừ Tuế Phá là các Đại Sư Phong Thủy xưa chưa có cách hóa giải thôi.
Trong tất cả các Hung Tinh thì ĐỨNG ĐẦU LÀ THÁI TUẾ. Và chỉ có Thái Tuế mới
phải dùng THÁI TUẾ PHÙ (tài suì fú) để hóa giải, còn ngoại ra tất cả CÁC HUNG
TINH KHÁC KHÔNG CẦN THIẾT chứ không phải không có Linh Phù hóa giải. Và khi
dùng Thái Tuế Phù, người ta chỉ cúng rất đơn giản (NCD sẽ nói ở dưới sau), không
cần phải bày trò "bắt ấn, vẽ Hổ phù..." toàn là trò nhảm nhí. Ngay cả
Đại Hung Tinh bậc nhất mà còn vậy thì sá gì 1 Sao Ngũ Hoàng phải bày lắm trò
kia. Rõ đúng là lợi dụng lòng tin vào Phong Thủy của người khác mà giở chiêu, hòng
tạo dựng tiếng tăm và khoe mẽ. Rất tiếc là trên các trang web đó không có cài
sẵn chương trình gõ tiếng Việt như diễn đàn của chúng ta, nếu không NCD đã vạch
mặt những kẻ dối đời lừa người kia rồi.
Về Ngũ Hoàng sát, nó chỉ là Hung Tinh nặng
nhất trong Cửu Tinh. Nhưng không phải lúc nào nó cũng là Hung Tinh cả, người
học mới biết sơ qua thì đã vội kết luận kiểu "ếch ngồi đáy giếng" là
sai lầm lắm vậy (Thế mà kẻ ấy tự huênh hoang là mình xem được cả Long Mạch mới
ghê kia chứ!). Khi Ngũ Hoàng nắm lệnh, tức là nhập trung thì nó là Cát Tinh
quyền uy tám phương, không Sao Cát nào vào giữa mà có uy lực tạo Phúc như nó cả,
vì đó là Chính Ngôi của nó vậy. Người ta chỉ xem nó là Sát khi nó rời khỏi cung
vị Phi đến các phương. Cách hóa giải Ngũ Hoàng thực ra không cần phải bày vẽ, chỉ
đơn giản 1 yếu quyết HÓA. Vâng. Với NGŨ HOÀNG thì dùng KIM để tiết khí THỔ là
đúng cách rồi. Còn dùng KIM gì, thì tùy nơi, tùy chỗ, thường thì người ta dùng
2 loại là Phong Linh và Tiền Đồng.
- Dùng dây
ruy-băng màu vàng, hay dây kim tuyến vàng xâu 5 đồng tiền cổ Càn Long (chỉ cần
tiền in đời Càn Long, không cần là tiền cổ thật) treo nơi có Sao Ngũ Hoàng phi
đến.
- Dùng dây
như trên xâu Tiền cổ Ngũ Đế (bây giờ không phải 5 đồng đời Càn Long, mà là 5
đồng của 5 đời Vua nhà Thanh : Thuận Trị, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh, Đồng
Trị; cũng vẫn như trên, chỉ là tiền giả cổ thôi), cũng treo nơi có Sao Ngũ
Hoàng Phi đến.
- Treo nơi
có Sao Ngũ Hoàng 1 Phong Linh với 5 thanh bằng KIM LOẠI thì có tác dụng hóa
giải tốt nhất.
Ngoài
ra người ta có thể dùng các con thú lành như: kỳ lân, tỳ hưu,... nhưng cũng
phải bằng đồng. Tất cả những gì thuộc Thổ đều không được dùng, vì nó làm tăng
tính Thổ của Ngũ Hoàng, càng làm nó mạnh thêm lên thôi. Xin hãy nhớ lấy! (Thế
mà kẻ kia lại còn bảo "đắp 1 mô đất nhỏ nơi sát bát hương của Bàn thờ
Thần", có lẽ là để làm nấm mồ cho gia chủ vì Ngũ Hoàng càng hung nguy tới
tính mạng gia chủ vậy. Chưa kể tới tính Hung của nó, chỉ miệng thiên hạ quở khi
nhìn thấy mô đất đó cũng đủ chết rồi.). Nếu dùng MỘC để khắc THỔ thì vẫn được, nhưng
trong Phong Thủy bất đắc dĩ mới dùng CHẾ, dùng HÓA bao giờ cũng tốt hơn.
Trên
Ngũ Hoàng có đến 3 Đại Hung Tinh khác nguy hiểm hơn nhiều, lực Sát thương mạnh
hơn nhiều, thì lại không thấy nhắc tới, thật đúng là kẻ "không biết trời
cao đất dày". Như trên đã nói, thì ngoại trừ TUẾ PHÁ là không có cách hóa
giải, cho nên nó chính là 1 trong 3 Đại Hung Tinh đó vậy.
1/.TUẾ
PHÁ rất đơn giản : Năm Tý thì nó ở Ngọ, năm Sửu thì nó ở Mùi, nó là phương
Đối Xung của Thái Tuế. Phương có Tuế Phá chỉ cần không làm xung động nó, không
sửa sang gì thì tất yên, không đáng lo. Chính vì thế nên nó không tính là nặng
nhất dù không có cách hóa giải.
2/. THÁI TUẾ là
phương sở trị năm đó, năm Tý tại Tý, năm Sửu tại Sửu, năm Dần tại Dần.... Người
xưa nói: "Thái Tuế khá Tọa bất Khá Hướng". Đại sư Phong Thủy Tăng văn
Địch nói rằng: "Không gì cát bằng TỌA Thái Tuế. Hung không gì hung bằng
phạm Thái Tuế". Chính vì cái lý ở trên, Thái Tuế khi TỌA ở Sơn thì ta nên
bổ cứu cho nó, không nên khắc chế, xung hình nó. Cho nên có khi TỌA mà cát, có
khi TỌA mà hung. Hơn nhau hay không là ở chỗ dùng đúng phép. Nơi phương Thái
Tuế ở mà nhiều Sao Cát thì Cát, nhiều Sao Hung thì Hung. Nếu được thêm Tử Bạch,
Thái Dương, Tam Kỳ Môn, Quý Nhân, Lộc Mã, 2-3 cái cùng đến thì quý hiển không
gì bằng mà lại phát rất mau. Thái Tuế nắm quyền sinh sát trong 1 năm, ví như
ông Vua ngồi trên ngôi cao vậy. Các Sao tốt cũng ví như các bề tôi trung thần, tài
giỏi cùng vây quanh trợ giúp. Tôi hiền tất ứng với Minh quân tạo phúc cho muôn
nhà. Nếu gặp các Sao Hung ví như gặp các tôi gian, nịnh thần vây quanh bợ đỡ.
Gặp bề tôi gian thần tất vua hôn ám, bá tánh sẽ lầm than vậy. Cho nên, nếu Thái
Tuế TỌA Sơn, khi cần làm phải tính toán thật kỹ tìm các Đại cát Tinh hợp chiếu,
ví như mở mắt cho 1 con rồng vậy. Khi sáng mắt tất sẽ nhận ra đâu là nẻo chánh
đường ngay, đem lại ấm no cho muôn dân trăm họ. Nếu không biết cách chọn Đại
Cát Tinh thì xin chớ làm bừa, vì khi "động thổ trên đầu Thái Tuế"
không phải là chuyện đùa!! Khi Thái Tuế
đến Hướng thì quá dễ, ta có thể dùng khắc chế được, xem Thái Tuế thuộc Ngũ Hành
gì mà chọn năm tháng ngày giờ khắc chế nó mà làm, bởi ở Hướng ta không lo (nếu
ở Sơn, ta làm cách này thì cũng như ta khắc Sơn Chủ vậy, tuyệt đối không thể).
Trên kia, NCD có nói đến THÁI TUẾ PHÙ (tài
sì fú), cái này chỉ có người Hoa mới có dùng. Người ta dùng nó khi:
- Hướng nhà
rơi vào Thái Tuế
- Tuổi
người trong nhà có ai phạm Thái Tuế hay Tuế Phá (năm Tý, trong nhà có người
tuổi Tý hay tuổi Ngọ; năm Sửu trong nhà có người tuổi Sửu hay tuổi Mùi...)
Thái Tuế năm nào thì thỉnh Thái Tuế năm ấy
về Thượng lên (cái này mới khó vì không phải ở đâu cũng có, như cả Sài Gòn chỉ
có 1 ngôi chùa có cho thỉnh Thái Tuế Phù thôi). Người ta chuẩn bị nhang, đèn, hoa
tươi, trái cây, giấy vàng bạc, bày ra ngoài trời vào ngày 24-chạp AL lễ tạ Thái
Tuế Tinh Quân trong 1 năm qua đã phù hộ gia đình mình tai qua nạn khỏi, bệnh
tật tiêu trừ, làm ăn thuận lợi, gia đạo an vui. Rồi hạ Thái Tuế Phù năm trước
xuống, và Thượng Thái Tuế Phù năm sau lên. Do thói quen nên ngày nay, không cần
phạm Thái Tuế hay tuổi Tuế Phá thì người Hoa cũng Thỉnh Thái Tuế Phù về Thượng
lên, cầu xin Thái Tuế Tinh Quân phù hộ
trong 1 năm. Sau khi cúng vái, người gia chủ phải đọc 3 lần bài chú Cung thỉnh
Thái Tuế Tinh Quân Chú sau rồi mới Thượng lên:
Phụng thỉnh Tam tinh chiếu lệnh phù
Thiên thượng Nhật Nguyệt lai củng ứng
Nam Đẩu, Bắc Đẩu thôi Ngũ Hành
Yểm Phật kiển linh sắc chân lệnh
Bát Quái Tổ sư kỳ trung hình
Ngọc chỉ phụng lệnh Thái Tuế “ĐINH HỢI”
niên
Trực niên Phong Tề Tinh quân đáo thử
trấn
Thất Tinh, Ngũ Lôi hộ lưỡng biên
Lục Giáp thần tướng đáo cung tiền
Lục Đinh thiên binh thủ hậu doanh
Thiên Quan Tứ Phước thần cộng giáng
Chiêu Tài, Tấn Bửu tụ đương minh
Đệ tử nhất tâm tam bái Phật ! ( lạy 3 lạy )
Bái thỉnh Thái Tuế Tinh Quân bảo an
ninh
Trấn trạch quang minh nhân tôn kính
Hạp gia bình an, vạn sự hưng
Bảo mạng, hộ thân, tha trấn trạch
Trực niên Thái Tuế giáng lai lâm
Cấp cấp như luật lệnh !
Có thể được thì mỗi tháng vào ngày Rằm cúng
tạ Thái Tuế Tinh Quân, lễ vật y như trên, nếu không thì vào ngày 19-7 A.L cúng 1 lần cũng được.
Vị trí Thượng Thái Tuế Phù : ngang bàn thờ
Thần Phật, ngang bài vị Táo Quân, ngay chính sảnh ngó ra trước.
3/. TAM SÁT thì NCD đã có dịp nói đến
trong mục "giải đáp thắc mắc Phong
Thủy" rồi, nên không nhắc lại cách tính Tam Sát ở đây chi nữa. NCD chỉ
xin bàn rộng ra 1 tý : Khi nó đến Sơn hay tạo táng đều kỵ. Nếu Tam Sát chỉ đến
phương thì có thể chế nó mà tu tạo vậy. Trong cách CHẾ TAM SÁT có 3 điều cần
biết :
- Dùng tam
hợp cục để chế: Như TAM SÁT ở 3 phương
Tị, Ngọ, Mùi, đây là thuộc phương Nam, hành Hỏa. Ta gọi là TAm SÁT
thuộc Hỏa, thì dùng Tam Hợp Thủy là Thân Tý Thìn để Chế nó.
Thân
Tý Thìn hóa Thủy, Dần Ngọ Tuất hóa Hỏa, Tị Dậu Sửu hóa Kim, Hợi Mẹo Mùi hóa
Mộc.
Chúng
ta không có Tam Hợp hóa THỔ! Không thể dùng Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ mà khắc
TAM SÁT Thủy, vì tự trong khóa ngày giờ đã Hình Xung là cấm kỵ rồi. Cho nên khi gặp Tam Sát tại Thủy
ta phải dùng Quyền biến là dùng Nạp Âm Chế TAM SÁT.
Ví dụ
như năm Giáp Ngọ, thì TAM SÁT tại Hợi Tý Sửu, là TAM SÁT Thủy, ta dùng Ngũ Hổ
độn, tính được Bính Tý, Đinh Sửu => nạp âm của Bính Tý, Đinh Sửu được Thuỷ
thì ta dùng tháng ngày giờ Nạp Âm thuộc THỔ mà chế nó.
- Năm tháng
ngày giờ là Tam Hợp phải Đắc Lệnh - TAM SÁT phải Hưu Tù
Cách tính Vượng-Tướng-Tử-Tù-Hưu như sau :
Mùa Xuân :
Mộc vượng, Hoả tướng, Thổ tử, Kim tù, Thủy hưu
Mùa hạ
: Hỏa vượng, Thổ tướng, Kim tử, Thủy
tù, Mộc hưu
Tứ Quý
: Thổ vượng, Kim tướng, Thủy tử,
Mộc tù, Hỏa hưu
Mùa Thu
: Kim vượng, Thủy tướng, Mộc tử, Hỏa
tù, Thổ hưu
Mùa Đông :
Thủy vượng, Mộc tướng, Hỏa tử, Thổ tù, Kim hưu
Nếu các anh chị, các bạn nào tinh ý sẽ nhận
ra ngay cách nhớ dễ dàng : Trước tiên là thứ tự vượng tướng tử tù hưu. Kế đến
là thứ tự Tương Sanh Mộc=>Hỏa=>Thổ=>Kim=>Thủy. Khởi đầu từ mùa Xuân
thì ý theo thứ tự ấy. Mùa Hạ thì chuyển Mộc xuống cuối, đôn Hỏa lên. Cứ thế mà
xoay tính tới, rất dễ.
- Nên Bản
Mệnh Quý Nhân, Lộc, Mã với lại Bát Tiết Tam Kỳ Môn, Thái Dương, Thái Âm, Thiên
Đức, Nguyệt Đức đến phương ấy, càng nhiều càng tốt.
Cho nên các anh chị, các bạn nào có nghe ai
bày vẽ chuyện cúng bái gì xin chớ vội làm theo. NCD không nói là không được, nhưng
thật không đáng. Trong Phong Thủy ứng dụng Bùa chú không ít, nhưng những Hung
Tinh như thế này thì không cần thiết, tại sao phải tốn tiền không đáng như thế?!
Từ trước tới nay chúng ta thường hay nói
trong Phong Thủy có 2 trường phái chính: trường phái chú trọng về hình thể sơn
mạch thì gọi là Loan Đầu, trường phái chuyên chú trọng về Tinh Sao, phương vị
thì gọi là Lý Khí. Thực ra, Địa Mạch là khí đi ở dưới đất, hình chiếu lên trời,
vì vậy sinh khí của trời (các Tinh tú) đều ứng vào các Quẻ, tức là thông cả
Luật Lữ Thiên Địa Khí cảm ứng. Lấy các hào của Quẻ Hỗn Thiên để hỗ trợ cho Lai
Long và Tọa Huyệt thì được vẹn toàn, tất cả đều căn cứ vào Thiên Tinh, Địa Diệu
làm chính. Học về Địa Lý, có người chuyên dụng về Thiên Tinh, có người chuyên
dụng về Loan Đầu, chia ra phe phái phân biệt, mỗi môn làm 1 cách. NHƯNG đấy là
họ chưa thấu cái ý của các bậc Tiền hiền: Loan Đầu là Thể, Thiên Tinh là Dụng, Thể
và Dụng đều liên quan, hỗ ứng cho nhau thì mới toàn mỹ được. Tinh tú trên trời
chia ra khắp núi sông, Địa khí lưu hành dưới đất đâu đâu cũng có, phản ứng lên
trời, cho nên Cổ nhân mới dạy : "Địa thừa Thiên khí" là vậy. Phong Thủy
học vốn không xa rời cái LÝ của Kinh Dịch, nên càng không thể tách rời Thể và
Dụng. Hai bản thể này cùng song song tồn tại, hỗ tương cho nhau trong từng phần
của khoa Phong Thủy. Chẳng hạn Đại Sư Phong Thủy Dương Quân Tùng dùng Cửu Tinh
để xem LONG, Đại Sư Phong Thủy Lại Bố Y thì dùng Nhị Thập Bát Tú để xem SA-THỦY
(cái lý bảo "tại Thiên" chính do đây mà ra vậy, chữ Thiên chính là
Thiên Tinh chứ không phải Trời định). Theo khoa Phong Thủy ngôi Bắc Đẩu chính
là Huyệt Trường, các Long là Cửu Tinh, Sa-Thủy là Nhị Thập Bát Tú. Tất cả gộp
lại chẳng phải Thể Dụng hợp nhất, đan xen vào nhau đó ư?
NCD tôi nói dài dòng như thế để xin dẫn đến
1 phép xem kích thước Lỗ Ban trong Dương Trạch ngày xưa, cũng không ra ngoài
cái lý Thể Dụng. Cách tính của cách này như sau:
-Từ vách trái sang vách phải.
- Từ chỗ giọt nước mái hiên trước
đến cửa chính.
- Từ vách cửa chính đến vách kế
- ...(lần lượt từng đoạn cách
khoảng giữa các vách trong nhà)
- Từ vách ngăn áp chót đến vách
hậu.
đều theo đúng BỘ SỐ của 4 Trực : TRỪ, ĐỊNH, CHẤP,
KHAI.
Tuyệt đối tránh rơi vào 4 Trực : MÃN, BÌNH, THÂU, BẾ.
Tổng tất cả số đo ấy qui vào một
cũng hợp với BỘ SỐ 4 Trực ấy gọi là THiên Hợp.
Tổng chu vi nhà cũng hợp với BỘ
SỐ của 4 Trực ấy gọi là Địa Hợp
THIÊN & ĐỊA tương ứng như vậy
chính là Âm Dương tương hợp vậy.
Dương
Trạch khi đã Phân Kim, Lập Hướng, xác định phân phòng cho từng khu vực, đặt Bếp,
kê giường...vv…xong thì đã là TĨNH, là Thể rồi. Riêng các vách có thể điều
chỉnh cho kích thước hợp với BỘ SỐ, nên vẫn còn ĐỘNG, là Dụng. Cho nên, có thể nói, trong Dương Trạch thì Trạch là Thể,
Kích Thước là Dụng. Thể & Dụng gồm đủ hợp ý nghĩa Tiên Hậu Thiên nhất gia, thì
Phúc lành mới toàn mỹ được. Nếu có 1 cái phạm vào Hung Tinh thì khó khỏi sự lo
phiền phức vậy.
CÁCH TÍNH CÁC BỘ SỐ TRỰC :
Người xưa dùng 4 thước 5 tấc
làm 1 BỘ, 9 thước làm 2 BỘ, 13 thước 5 tấc làm 3 BỘ...
1 thước cổ = 20cm3mm thước Tây
hiện nay
==> 1 BỘ = 4 thước 5 tấc = 91cm3,5mm
So đối với 12 Trực, thì BỘ đầu
là Kiên, BỘ thứ 2 là Trừ, BỘ thứ 3 là Mãn...
Chiều cao của mái nhà phải
tương xứng với chiều sâu căn nhà theo tỷ lệ 1/3.
Trước khi sang vấn đề khác, NCD vì thấy có
nhiều bạn trên điễn đàn có nhu cầu cất nhà, và có nhắn tin qua Yahoo Messenger
hỏi NCD về việc ấy, nên nay NCD muốn nói qua về các tuổi có thể cất nhà được.
Bởi kiếm mảnh đất thích hợp với tuổi mình, Sơn Hướng mảnh đất đó năm nay xây
cất được, nhưng tuổi mình không cất được thì xem những điều khác kia làm gì?!
NCD tôi từng chứng kiến rất nhiều người vì không rành cách tính tuổi cất nhà
được, phải đến các vị xem tuổi "gà mờ" nhờ xem, vì thế mà chuốc họa
vào thân. Ngay cả khi họ chưa cất, nhưng do họ đã xem người khác, tin vào người
khác rồi mà mình nói e họ hoang mang không tốt nên NCD cũng đành nín thinh
thôi. Thật ra những điều này rất dễ tính, ai cũng có thể tính được cả, cớ sao
phải đi hỏi những người "gà mờ" kia cho mang họa?! NCD nay xin chỉ ra,
hầu sau này các anh chị, các bạn nào có nhu cầu cất nhà hãy tự tính tuổi cho
mình trước khi đến xem thầy nhờ tư vấn cất nhà. Và khi ấy cũng đừng nói mình
tính tuổi trước, hãy dùng thử tuổi 1 người trong nhà mà phạm bàn tay Kim Lâu
cấm kỵ mà lát nữa NCD nói dưới đây xem người thầy ấy tính thế nào đã. Nếu ông
ta vẫn cho là cất được thì tốt nhất là đi tìm 1 ông thầy khác thôi, kẻo chuốc
họa vào thân. Đừng lầm tưởng rằng ai xem cất nhà cũng biết, nhất là các...vị
thầy chùa ở miệt vườn thường xem rất sơ sài rồi cho rằng cất được, rất nguy
hiểm.
1/. Tam Tai : Điều cần biết trước tiên là xem tuổi mình có
vướng Tam Tai không đã. Hạn này ai cũng vướng cả, trong 1 vòng 12 năm Địa Chi
thì có 3 năm vướng phải, tất cả các việc khởi mới đều không nên làm, từ cất nhà
cho đến làm ăn.
- Các tuổi Tị Dậu Sửu :
Tam Tai 3 năm Hợi Tý Sửu
- Các tuổi Thân Tý Thìn : Tam
Tai 3 năm Dần Mẹo Thìn
- Các tuổi Hợi Mẹo Mùi :
Tam Tai 3 năm Tị Ngọ Mùi
- Các tuổi Dần Ngọ Tuất : tam
Tai 3 năm Thân Dậu Tuất
Điển
hình như năm nay & 2 năm kế tiếp (2007, 2008, 2009) các tuổi Tị Dậu Sửu
không thể đứng ra cất nhà. Đương nhiên có 1 tý ngoại lệ NCD sẽ nói sau.
2/. Bàn tay Hoang Ốc : Khi tuổi mình (hay người đứng cất)
không vướng Tam Tai, thì xét tiếp bàn tay Hoang Ốc. bàn tay này có 2 cách tính
: 1 cách thông thường và 1 cách tính nhanh lẹ dễ nhớ.
- Cách
thông thường : Chúng ta dùng 2 ngón tay
trỏ và giữa (như trong cách dùng Khổng Minh Lục Diệu vậy). Mỗi ngón có 3 lóng, vị
chi 2 ngón là 6 lóng tương ứng với 6 Cung như sau : Nhứt Kiết _ Nhị Nghi _ Tam
Địa Sát _ Tứ Tấn Tài _ Ngũ Thọ Tử _ Lục Hoang Ốc.
Khởi
Đại-Tiểu-Số-liên-tiết từ ô Nhất Kiết
==> Khởi Nhất Kiết ở lóng cuối ngón trỏ (nơi sát bàn tay), Nhị Nghi ở
lóng giữa ngón trỏ, Tam Địa sát ở lóng đầu ngón trỏ, Tứ Tấn Tài sang lóng đầu
ngón giữa, Ngũ Thọ Tử xuống lóng giữa ngón giữa, Lục Hoang Ốc xuống lóng cuối
ngón giữa.
Còn
Đại-Tiểu-Số-liên-tiết là cách khởi 10,20,30...cho đến khi hết tuổi hàng chục
thì tiếp tuổi hàng đơn vị, cho đến tuổi cần xem.
Các tuổi nào rơi vào các ô Nhất Kiết, Nhị
Nghi và Tứ Tấn Tài thì cất được. Thôi, để thí dụ cho dễ hiểu nghen !
Ví dụ
: Người đó năm nay 34 tuổi =>
Tuổi Dần không vướng Tam tai
Khởi 10 tại Nhất Kiết, 20 tại Nhị
Nghi, 30 tại tam Địa Sát
ta thấy đã đủ tuổi hàng chục của
người đó, chuyển qua hàng đơn vị
Tiếp 31 tại Tứ Tấn Tài, 32 tại Ngũ
Thọ Tử, 33 tại Lục Hoang Ốc, 34 tại Nhất Kiết==>Vậy là tạm được 2 phần có
thể cất.
Và đa số các thầy xem ngày cho người ta cất
nhà ở các thôn quê hay sai lầm chỗ này: Chỉ thấy Tứ Tấn Tài là đã bảo "Cất
nhà tốt lắm". Đúng là "Các Thầy = Cầy Thác =..." Và NCD tôi đã
nghe đầy cả tai những chuyện của những kẻ coi thường mạng sống người khác ấy, từ
phán quyết sai lầm của họ dẫn đến việc chết chồng, chết vợ, chết con cái... Thực
ra, 2 điều trên đây chỉ dẫn đến việc làm ăn khó khăn, ÍT KHI dẫn đến việc chết
chóc như bàn tay KIM LÂU dưới đây, thế mà những người đó lại bạo gan không kể
số gì đến.
Trước khi sang bàn tay KIM LÂU, NCD xin chỉ
luôn cách tính nhanh của bàn tay Hoang Ốc này
- cách tính
nhanh : Cộng tuổi người đứng cất lại : hàng chục + hàng đơn vị = bao nhiêu, đem
trừ đi 6 (nếu còn lớn hơn 6 thì trừ tiếp cho đến khi nhỏ hơn 6)
Lấy số dư so với các cung Nhất Nhị tam
tứ...xem là gì
Như VD trên
: người đó 34 tuổi
3+4 =7
7-6=1. 1 tương ứng với chữ Nhất là ô Nhất Kiết vậy
Thêm 1 ví dụ nữa : Một người 58 tuổi
=> 5+8=13
13-6=7
> 6
7-6=1 vẫn là ô Nhất Kiết vậy
3/. Bàn tay KIM LÂU
: Cũng có 2 cách tính
- Cách
thông thường : Dùng 3 ngón tay trỏ, giữa, áp út ngửa ra. Mỗi
ngón có 3 lóng, vị chi có 9 lóng tương ứng với 9 ô ( Đây cũng là cách thường
khi NCD dùng để tính Huyền Không Phi Tinh trên bàn tay, bởi 9 ô của nó tương
ứng như 9 ô vuông Lạc Thư vậy. Các anh chị, các bạn nào có nghiên cứu qua khoa
Huyền Không thì hãy tập cách bấm tay như vậy xem, tốn giấy làm gì ?!)
Ô khởi đầu tiên là lóng đầu ngón áp út, gọi nó
là ô số 1 (<=>cung KHÔN)
Ô kế tiếp là lóng giữa ngón áp út, gọi nó là ô
số 2 (<=> cung ĐOÀI))
Ô kế tiếp là lóng cuối ngón áp út, gọi nó là ô
số 3 (<=> cung CÀN)
Ô kế tiếp là lóng cuối ngón giữa, gọi nó là ô
số 4 (<=> cung KHẢM)
Ô kế tiếp là lóng giữa ngón giữa, gọi nó là ô
số 5 (<=> Trung Cung )
Ô kế tiếp là lóng cuối ngón trỏ, gọi nó là ô
số 6 (<=> cung CẤN )
Ô kế tiếp là lóng giữa ngón trỏ, gọi nó là ô
số 7 (<=> cung CHẤN )
Ô kế tiếp là lóng đầu ngón trỏ, gọi nó là ô số
8 (<=> cung TỐN )
Ô kế tiếp là lóng đầu ngón giữa, gọi nó là ô
số 9 (<=> cung LY )
Cách khởi tuổi cũng là Đại-Tiểu-Số-liên-tiết
như trên. Xin đừng quên chỗ ô số 5 sang ô số 6, tức từ 4 nhập Trung rồi trở ra
ngay không đi tiếp lên trên.
Các tuổi nào phạm phải các ô số 1-3-6-8 là
phạm KIM LÂU, cụ thể là :
- Ô số 1_
KIM LÂU THÂN : Ảnh hưởng trực tiếp gia chủ, người đứng cất
- Ô số 3_
KIM LÂU THÊ : Ảnh hưởng người vợ gia chủ, vợ người đứng cất
- Ô số 6_
KIM LÂU TỬ TÔN: Ảnh hưởng đến con cháu
gia chủ hay người đứng cất, nếu là công xưởng thì chính là các công nhân, nhân
viên
- Ô số
8_KIM LÂU LỤC SÚC: Ảnh hưởng đến súc vật
nuôi, nếu là công xưởng thì là máy móc, nguyên thiết bị
Các tuổi KIM LÂU này thường dẫn đến sự chết
chóc, rất nguy hiểm. Tuy trong phép xem ngày có cách cục không sợ KIM LÂU lẫn
HOANG ỐC, nhưng thôi tránh đi là tốt nhất, "tránh voi chẳng xấu mặt nào"
mà phải không?
Ví dụ thử
cho dễ hiểu hơn nhé ! Người đó năm nay
49 tuổi.
49 tuổi => Tuổi HỢI không vướng Tam
tai. (4+9)-6-6= 1 là Nhất Kiết
Khởi 10 tại ô số 1, 20 tại ô số 2, 30 tại ô số
3, 40 tại ô số 4
Đến đây tuổi hàng chục đả đủ, ta chuyển tiếp
qua hàng đơn vị :
41 tuổi vào ô 5, 42 tuổi ra ô 6, 43 tuổi lên ô
7, 44 tuổi lên ô 8, 45 tuổi đến ô 9, 46 tuổi quay tiếp lại ô 1, 47 tuổi ở ô 2, 48
tuổi ở ô 3, 49 tuổi ở ô 4.
Vậy là không phạm, có thể cất được.
Nhiều người, nhiều sách nói rằng : Kim Lâu
bàng khởi chánh Khôn Cung
Ngũ Thập thường thị nhập Trung
Cung
và cho rằng chỉ có 50 tuổi mới vào Trung Cung
là sai lầm to vậy. Xin đừng lầm chỗ này !!
- Cách tính
nhanh : Có 2 cách
* Dùng phép
chia :
Lấy tuổi người cất chia cho 9, số dư là số ô nó đến
* Dùng phép
trừ :
Lấy tuổi người cất cộng & Trừ cho 9 tương tự cách tính nhanh bàn tay
kia
Ví dụ 1 :
Người 49 tuổi trên kia
. 49 : 9 = 5 dư 4. Vậy 4 là ô nó đến
. 4+9=13.
13-9 =4 . Vậy 4 là ô nó đến
Ví dụ 2 :
Người đó 69 tuổi
. 69 : 9 = 7 dư 6 là ô số 6 phạm Kim Lâu Tử
Tôn
. 6+9 = 15 .
15-9=6 vậy 6 là ô nó đến
Rất dễ phải không?! Mong rằng các anh chị, các
bạn có thể tự tính cho mình được.
***NGOẠI LỆ : Có 8 tuổi không cần tính 2 bàn tay này, chỉ cần xem không phạm
Tam tai là được tuổi cất. 8 tuổi đó là:
CANH DẦN _ CANH THÂN _ NHÂM
DẦN _ NHÂM THÂN
KỶ SỬU _ TÂN SỬU _ KỶ MÙI _
TÂN MÙI
8 tuổi này không kiêng kỵ Kim Lâu
& Hoang Ốc nhưng vẫn phải tránh Tam Tai, vẫn phải xem hướng theo
tuổi...vv...Xin đừng lầm lẫn như 1 số người là 8 tuổi này không cần xem hướng, cất
là tự nhiên...xui khiến làm trúng (?!).